cấp cứu bỏng

Cấp cứu bỏng và nhiệt độ cao

cấp cứu bỏng

Như trước đây thì người ta phân chia 3 độ bỏng theo chiều sâu của tổn thươngdo bỏng gây ra:

  • Bỏng mức độ 1 : các ban đỏ đơn thuần , không có bong biểu bì và liền sẹo không để lại di chứng sau vài ngày.
  • Bỏng mức độ 2 : bỏng ở phía trong bề dầy của da tạo thành các nốt phỏng. Bỏng độ 2 thường nông , tổn thương không ăn vào sâu quá lớp chân bì nông và thành sẹo sau từ 2 đến 3. tuần , không gây di chứng quan trọng. Ở trong bỏng độ 2 sâu thì các tổn thương xảy ra ở cả chân bì nông và chân bì sâu , thành sẹo khó sau 2 tuần, và hay để lại sẹo vĩnh viễn.
  • Bỏng mức độ 3 : gây phá huỷ toàn bộ bề dầy của da, đòi hỏi phải tiến hành ghép da

Độ  nặng của bỏng tính theo phần trăm diện tích bề mặt cơ thể:

  • Bỏng nhẹ : tổn thương dưới 15%.
  • Bỏng trung bình (vừa) : bỏng giữa 15 và 49%.
  • Bỏng rộng: tổn thương giữa 50 và 69%.
  • Bỏng quá rộng: tổn thương hơn 70%.
phân độ bỏng

Điều trị bỏng

Trường hợp bỏng cần phải điều trị nội trú : là các trường hợp có nguy cơ sống còn,  hoặc tác động tới phổi ( hít phải hơi cháy , hơi khí nóng hay hơi nước sôi ) , bỏng  khu trú ở mắt, ở những chỗ nếp gấp của thân thể. Chuyển ngay nạn nhân vào một trung tâm điều trị bỏng càng sớm càng tốt  sẽ tạo cơ hội tốt hơn cho nạn nhân sống sót và sẽ có tương lai tốt hơn về thẩm mỹ và chức năng.

Trường hợp bỏng có thề điều trị ngoại trú được : bỏng nông , tổn thương không vượt quá 5% diện tích cơ thể ở người lớn và 3% diện tích cơ thể ở trẻ em. Trong các trường hơp này, muc tiêu điều tri chỉ làm giảm đau và phòng nhiễm khuẩn.

Điều trị các trường hợp bỏng lành tính

Giảm đau cho nạn nhân bằng những thuốc giảm đau không gây ngủ , tuỳ tình trạng có thể cho benzodiazepin. Trước khi bang bó vết bỏng, nên áp một miếng vải gạc vô khuẩn thấm nước lạnh vào vết bỏng để giảm đau (nhưng không trườm nước đá).

Vô khuẩn tại chỗ bằng các chất như:  xà phòng acid ( toan ) , clorhexidin hay  một muối ammoni hoá trị 4. Rửa vết bỏng bằng huyết thanh sinh lý hay nước vô khuẩn.

Những nốt phỏng rộng hơn 2 cm thì chọc thủng để chảy hết nước. Nếu ở những  vùng có lông tóc thì cắt lông tóc bằng kéo. Khi các nốt phỏng đã xẹp xuống, thì tiến hành băng vết bỏng với thuốc mỡ có tác dụng làm liền sẹo,  kháng khuẩn. Phải nhớ thay băng thường xuyên.

Tất cả các  trường hợp bỏng sâu ở bàn tay và các ngón tay phải được điều trị ở một trung tâm chuyên sâu để tránh biến chứng, đặc biệt  là biến chứng co kéo các ngón tay. Bỏng ở mắt cá cổ chân có nguy cơ viêm tĩnh mạch. Với những nạn nhân bị bỏng ở cẳng chân hay bàn tay thì quan trọng nhất là phải kê cao chi bị bỏng lên cao hơn mức cao của tim.

NHIỆT ĐỘ CAO ( NÓNG )

-Phù : đối với người không quen với khí hậu , thường là những  người già, thì nhiệt độ cao có thể gây ra phù ở chi dưới do giãn mạch máu và ứ trệ tĩnh mạch.

-Suy nhược do nhiệt độ cao : ở những người già, đặc biệt là với những  người già đang điều trị bằng thuốc lợi niệu, mà phải chịu khí hậu có nhiệt độ cao sẽ xảy ra giãn các  mạch máu ngoại vi kèm hạ huyết áp tư thế đứng , có cảm giác khó chịu , chóng mặt , buồn nôn , có thể bất tỉnh nhất thời ( thỉu hoặc ngất ). Mất dịch quá mức do ra mồ hôi nhiều góp phần làm giảm tưới máu ở não. Da nạn nhân có màu xám nhạt ,ẩm, mạch đập yếu và chậm , huyết áp giảm thấp. Điều trị : bù  nước bằng cách cho uống đủ lượng các đồ uống có cho them một ít muối.

Chẩn đoán phân biệt  : với  cơn hạ đường huyết , rối loạn nhịp tim hay tai biến mạch máu não thoáng qua.

Co cơ khi nhiệt độ cao: co cứng cơ nặng sinh lý , xuất hiện ở các đối tượng tiếp xúc với nhiệt độ cao, đặc biệt  là ở người lao động chân tay,   ra mồ hôi nhiều quá nhưng  không nhận ra vì mồ hôi bay hơi quá nhanh. Co cứng cơ nguyên nhân  do mất natri quá nhiều ( mất muối ) , cơn co cứng cơ có thể gây đau dữ dội , xảy ra kịch phát và có  kèm suy nhược cơ thể , thỉu , tăng thông khí , hãn hữu có thể kèm tan cơ vân và có myoglobulin-niệu. Điều trị: uống đủ đồ uống có cho thêm ít muối.

 

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY