tắc mạch phổi

Một số hình thái của bệnh tim và tắc mạch phổi khi có thai

  1. Một số hình thái của bệnh tim

Nếu không có tình trạng tăng áp lực động mạch phổi thì thông liên nhĩ không gấy rắc rối gì cho người phụ nữ mang thai mặc dù nguy cơ tử vong thai gia tăng. Những phụ nữ có khuyết tật thông liên thất mà không tăng áp lực động mạch phổi thì cũng không có vấn đề gì khi có thai. Tuy nhiên thương tổn này có thể trở nên rắc rối hơn do viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn do đó cần sử dụng kháng sinh dự phòng lúc sổ thai.

Sa van hai lá, một hiện tượng phổ biến ở phụ nữ khi có thai, không có vẻ gây rắc rối khi có thai mà có thai cũng không làm rắc rối cho sa van tim. Tuy nhiên để đảm bảo hơn vãn sử dụng kháng sinh để dự phòng.

Những phụ nữ có bệnh phì đại cơ tim nói chung không có vấn đề gì khi có thai, thật vậy, tăng thể tích máu lúc có thai có thể do giảm mức chênh áp lực trong tâm thất và do vậy cải thiện triệu chứng này. Là vì tiên lượng xấu nên bệnh cơ tim phì đại sau khi suy tim là một chống chỉ định có thai. Bệnh cơ tim chu sản, hình thái phì đại cơ tim cấp diễn có thể kèm theo viêm cơ tim xuất hiện trước hay sau khi đẻ, phần lớn thường diễn ra sáu tuần sau đẻ đôi khi có kèm tiền sản giật và có thể thực sự do thai nghén gây ra. Tỉ lệ chết sơ sinh sẽ cao nếu có suy tim sung huyết và tỉ lệ tử vong mẹ cũng tăng trong một vài tháng đầu. Một số người bệnh thấy có hồi phục chức năng, tuy nhiên đa phần thấy rối loạn chức năng thất trái thường xuyên và nặng nề. phải tránh các lần có thai sau. Nhĩ bóp sớm hoặc ngoại tâm thu thất lúc có thai có thể được điều trị bằng loại trừ các yếu tố gây kích thích,tránh mệt mỏi quá sức và cần được động viên an tâm. Nên tránh dùng thuốc, nếu có thể,song khử rung có thể được sử dụng an toàn để xử lý các loạn nhịp nhanh khi có thai.

  1. Tắc mạch phổi

Khi có thai, tất cả các yếu tố đông máu đều tăng, ngoại trừ yếu tố III, XI và XIII, một chất ức chế đông máu chính thì giảm. Tỉ lệ tắc mạch phổi khoảng 1/750 lần mang thai. Cần phải ngăn chặn tắc mạch và các biến chứng dài hạn của tắc mạch nên điều quan trọng là phải nhận biết được các biến cố nặng. Biến chứng này cũng có thể xảy ra ở giai đoạn sau đẻ. Ghi biến thiên thể tích bằng điện kháng và chụp siêu âm Doppler là các kĩ thuật không gây chảy máu và không dùng tia Ronghen có ích trong việc thu thập tư liệu về tắc mạch sâu. Khi tắc mạch phổi có thể tiến hành chụp nhấp nháy phổi  tiếp theo là tiêm truyền một lượng nhỏ chất đồng vị phóng xạ và chụp động mạch phổi có che chắn phần ngực.

Mặc dù các kĩ thuật này có gây ra các nguy cơ nhỏ song đó là các kĩ thuật cực kì quan trọng để chẩn đoán tắc mạch phổi.

Trị liệu chống đông máu được sử dụng cho các phụ nữ có thai có tắc mạch sâu để ngăn ngừa tắc mạch phổi.

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY