uống rượu

Triệu chứng ngộ độc ethanol

1. Triệu chứng lâm sàng

– Bệnh nhân có biểu hiện các mức độ rối loạn ý thức khác nhau: kích thích, sững sờ hoặc hôn mê.

– Mùi ethanol có trong hơi thở nói chung thường có nhưng không phải trong tất cả các trường hợp.

– Khám trên thực thể: đánh giá chức năng đường hô hấp, tìm kiếm các yếu tố là biến chứng hoặc làm nặng thêm như chấn thương, nhiễm trùng, xuất huyết.

– Trẻ em dưới 10 tuổi là đối tượng dễ bị hạ đường máu,

– Nôn thường có ở những người ít uống với lượng ít.

– Ngộ độc mức độ  nhẹ và vừa: có thể nói ngọng, mất điều hoà, rung giật nhãn cầu.

 

rượu

Bảng 1: Tác dụng của ethanol trên  người bình thường ( không dung nạp rượu)

Nồng độ ethanol trong huyết thanh ( mg/dL) Các triệu chứng lâm sàng
20 – 50 mg/dL Gây rối loạn ức chế, kích thích nghịch thường, cảm xúc không ổn định, thích giao du với người khác, nói nhiều và  hưng cảm.
50 – 100 mg/dL Làm chậm đáp ứng, giảm khả năng phán xét, mất điều hòa vận động biên độ nhỏ, loạn vận ngôn.
100 – 200 mg/dL  bạo lực, mất định hướng, lân lộn, vô cảm, giãn mạch, sững sờ.
200 – 400 mg/dL ức chế sự hô hấp, mất các phản xạ bảo vệ đường thở, giảm thận nhiệt, đái ỉa không tự chủ, tụt huyết áp, hôn mê
> 400 mg/dL Gây truỵ tim mạch thậm trí tử vong
  1. Các xét nghiệm cận lâm sang:

    – Làm khi bệnh nhân ngộ độc mức độ trung bình hoặc nặng.- Các xét nghiệm điện giải, urê, glucose, công thức máu, khí máu động mạch, áp lực thẩm thấu máu, nồng độ ethanol, , canxi, magiê, phospho, chức năng gan, prothrombin, điện tim, xquang ngực, xét nghiệm nước tiểu.

    – Các xét nghiệm khác tuỳ theo các dấu hiệu lâm sàng.

    Ethanol có thể tìm thấy ở bất kỳ mẫu sinh học nào, từ máu, nước tiểu, nước bọt, hơi thở. Việc sử dụng áp lực thẩm thấu máu không đặc hiệu cho ethanol vì các rượu khác cũng ức chế điểm đông. áp lực thẩm thấu máu cũng ước tính quá mức nồng độ rượu ( xin xem thêm phần khoảng trống thẩm thấu). Xét nghiệm chính xác nhất là bằng phương pháp sắc ký khí, có độ nhạy cao. Xét nghiệm nồng độ ethanol trong hơi thở cũng cho kết quả nhanh chóng và đáng tin cậy, đặc biệt trong hoàn cảnh cấp cứu. Xét nghiệm này dựa trên một thực tế là tỷ lệ nồng độ ethanol trong huyết thanh/phế nang là 2300/1 ( 2100/1 với y pháp) theo định luật Henry.

    – Cần phân biệt giữa nồng độ ethanol trong máu ( dùng trong kiểm soát giao thông) và trong huyết thanh ( dùng trong lâm sàng) vì hai giá trị này khác nhau do tỷ trọng của máu khác tỷ trọng của huyết thanh.

    – Xét nghiệm nồng độ ethanol có trong tử thi: quá tình thối rữa có thể làm thay đổi nồng độ ethanol. Các dịch thể được lựa chọn để lấy mẫu xét nghiệm là nước tiểu ở bàng quang, thuỷ tinh dịch.

    – Gần đây, có một xét nghiệm mới mà  đặc hiệu với ethanol là miễn dịch enzym.

 

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY